Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

 

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

THIỀN ĐỊNH VÀ SỨC KHỎE
(Quán Niệm Hơi Thở)

Tỳ khưu THIỆN MINH
(Bhikkhu Varapanno)

soạn dịch từ tiếng Myanmar.

PL 2551 - DL 2007

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


KÍNH DÂNG LÊN GIÁC LINH:

- Ngài Cố Đại Lão Hòa Thượng Hộ Tông
(Bậc khai sáng Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam)
(1893- 1981)

- Chư Cố Đại lão Hòa thượng, Cố Đại Đức Tăng, Phật Giáo Việt Nam

- Sư Phụ: Ngài Cố Đại Lão Hòa Thượng Hộ Nhẫn
(Tăng trưởng hệ phái Nam Tông, Viện chủ Thiền Lâm sơn tự)
(1924- 2002)

-ooOoo-

 Mục lục

Các chữ viết tắt
Lời Tác Giả

Chương I - SỨC KHOẺ THỂ CHẤT - SỨC KHOẺ TINH THẦN

Bốn yếu tố liên quan đến sức khỏe con người.

1. Thức ăn liên quan đến sức khỏe như thế nào?

2. Thời tiết liên quan đến sức khỏe như thế nào?

3. Nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

a) Bệnh sinh ra do ảnh hưởng di truyền.

b) Bệnh sinh ra do ảnh hưởng nghề nghiệp.

c) Bệnh sinh ra do thói quen.

4. Yếu tố tinh thần (hay tâm) liên quan đến sức khỏe như thế nào?

a) Vai trò và tầm quan trọng của yếu tố tinh thần (vui, giận, thương, ghét v.v... )

b) Vai trò của thiền định đối với sức khỏe.

Chương II - THIỀN ĐỊNH - PHÁP QUÁN NIỆM HƠI THỞ (Ānāpānasati)

Đức Phật tán dương về thiền định.

Các bước chuẩn bị hành thiền.

A. Điều hòa thân:

1. Thiền trong tư thế đứng.

2. Thiền trong oai nghi đi (đi kinh hành).

3. Thiền trong oai nghi nằm. Đặc biệt dành cho thư giản nghỉ ngơi.

B. Điều hòa tâm - Niệm hơi thở:

1. Phương pháp niệm hơi thở (Gananā).

2. Phương pháp số đếm.

3. Dài và Ngắn.

Trường hợp hơi thở dài (Dīgha).
Trường hợp hơi thở ngắn (Rassa).
Vấn đề đặc biệt lưu ý.

4. Tập trung chánh niệm trên toàn bộ quá trình “Dài-ngắn” của hơi thở.

5. Phát triển thiền tâm cho yên lặng.

6. Bảy trường hợp không có hơi thở.

7. Tình hình xuất hiện “Dấu hiệu” của thiền định.

C. Các Bậc Thiền:

1. Đường đến sơ thiền.

2. Nên nhập thiền nhiều và nên phân biệt chi ít!

3. Năm chi của Sơ thiền (đệ nhất thiền).

4. Năm bước thành thạo của sơ thiền.

5. Nhập đệ nhị thiền.

6. Nhập đệ tam thiền.

7. Nhập đệ tứ thiền.

8. Một số đặc biệt của đệ tứ thiền.

D. Hồi Quang Phản Chiếu:

32 Thành phần trong cơ thể (Koṭṭhāsa)

E. Ba phương pháp quán chiếu để đoạn tận phiền não.

Chương III - NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BIẾT TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP THIỀN

1. Những khó khăn

2. Đừng đùa giỡn với “nimitta” (ánh sáng của thiền).

3. Nhiều loại “nimitta”.

4. Sự ám ảnh, sự chấp trước (trí tưởng tượng ám ảnh).

5. Phân biệt Học tướng và Quang tướng.

6. Chú ý (việc quân bình Ngũ căn).

7. Chánh niệm (Sati).

8. Bảy pháp hổ trợ việc phát triển thiền.

9. Điều lưu ý với các cảm thọ sinh khởi trong lúc hành thiền:

10. Vật thể của Tâm – nơi nương tựa của Quang tướng “Manodvāra”.

PHỤ LỤC

I. Tóm tắt trình tự hành thiền theo phương pháp niệm hơi thở qua từng bước

II. Phương pháp vắn tắt chuyển qua các tầng thiền

III. Ích lợi thực tế của hành giả.

-ooOoo-

Các chữ viết tắt

Saṃ               Saṃyuttanikāya (Tương Ưng Bộ Kinh)

Visuddhi      Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo)

Ma                 Majhimanikāya (Trung Bộ Kinh)

Aṅ                  Aṅguttaranikāya (Tăng Chi Bộ Kinh)

Aṅ-aṭṭha      Aṅguttaranikāya-aṭṭhakathā
                       
 (Chú Giải Tăng Chi Bộ Kinh)

Dī                   Dīghanikāya (Trường Bộ Kinh)

 -ooOoo-

LỜI TÁC GIẢ

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Kính thưa chư vị Thiện Hữu!

Như chúng ta đã biết, "sức khỏe thể chất", "sức khỏe tinh thần" là hai vấn đề không thể tách rời và luôn trong thế hỗ trợ và nương tựa cho nhau để tạo nên sự an vui hạnh phúc lâu dài cho mỗi cá nhân trong cuộc sống.

Sự phát triển của Y học kim cổ Tây phương cũng như Đông phương đặt trọng tâm vào sự chăm sóc sức khỏe thể chất của con người và hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần trong một chừng mực nào đó. Nội dung chủ yếu của sách nầy là trình bày về “bốn yếu tố” chính yếu quan trọng ảnh hưởng quyết định đến sức khỏe đời sống của con người, đặc biệt trình bày khá chi tiết và cụ thể về “phương pháp thiền định”, một phương pháp dưỡng sinh qua hơi thở vô cùng độc đáo, tuyệt vời được lưu truyền từ các bậc Thánh nhân tiền bối ngày xưa...

Tự ngàn xưa loài người trên trái đất nầy, bên cạnh việc chăm sóc sức khỏe về thể chất cũng đã có phương pháp chăm sóc cho sức khỏe tinh thần một cách tích cực và hiệu quả đó là thiền định.

Con người trong dòng sinh tồn, trên đường mưu sinh sự nghiệp, thường bị ảnh hưởng bởi các tác động xã hội vận hành chi phối. Biết bao áp lực từ chính bản thân, từ công việc gia đình, xã hội, thế giới... Và dường như không thể tránh khỏi, những áp lực ấy ngày một tăng thêm. Một số trường hợp căng thẳng thần kinh (stress), các hội chứng rối loạn tâm thần v.v... mà cả hai ngành Tây y cũng như Đông y chưa tìm ra phương thuốc điều trị nhiều hiệu quả...

Thiền định như một phương thuốc linh diệu có thể chặn đón, ngăn ngừa và hóa giải được những trạng thái tâm lí căng thẳng ấy trong mọi nơi mọi lúc. Thiền định giúp cho hành giả định tỉnh, trầm lặng hơn; biết tự chế, tự điều hòa được với những nguyện vọng mãnh liệt, những ảo tưởng, ảo giác phi thực tế quá độ; những cơn nóng giận, do trái ý nghịch lòng... thiền tự đánh thức, khơi dậy vô vàn năng lực quý báu vốn tiềm ẩn trong nội tâm của mỗi con người chúng ta. Người tập thiền có khả năng tự mình hóa giải những tổn thương trong nội tâm, tăng cường khả năng linh hoạt nhạy bén, dễ dàng vượt qua và hóa giải những khó khăn mà con người phải trực tiếp đối diện trong đời sống hàng ngày v.v... Do vậy mà thiền định thật sự là một nhu cầu cần thiết cho mọi người. Bất kỳ ai, ở độ tuổi nào đều cũng có thể thực hành được.

Thiền định không còn thu hẹp trong lĩnh vực tôn giáo nữa, mà còn là một phương pháp dưỡng sinh hữu ích, một nghệ thuật sống linh động tuyệt vời. Thiền, nhìn bên ngoài thì đơn giản nhưng thật sống động, tinh nhị và phong phú. Thiền định không chỉ dừng lại ở phạm vi bổ ích cho sức khỏe thể chất, bồi dưởng cho sức khỏe tinh thần mà còn có một hoạt dụng vô cùng rộng lớn và quí báu đó là giúp ta tăng trưởng lòng từ ái, tình thương yêu và sự tha thứ đối với nhân loại.

Thiền làm nền tảng cho sự phát huy trí tuệ bổ ích lớn lao và thiết thực đối với mọi người, mọi lứa tuổi, đã và đang đi sâu vào giải quyết những vấn đề quan trọng cơ bản nhất từ nội tâm của con người góp phần tích cực vào sức khỏe sự an vui cho mỗi cá nhân, của hòa bình chung cho toàn thể nhân loại.

Lợi ích tuyệt đối của thiền định vì vậy mà không còn ranh giới và không bị bó buộc trong một cộng đồng văn hóa riêng biệt nào.

Thưa qúi vị Thiện hữu!

Xét thấy thiền định là một môn học vô cùng bổ ích lớn lao như vậy nên bần đạo mạo muội dịch soạn một phần nhỏ cuốn sách của Ngài Thiền Sư Acinna là một Đại trưởng lão thiền sư nổi tiếng, tinh thông cả hai (Pháp học và Pháp hành) tại Myanmar cũng như trên thế giới hiện nay.

Bần Đạo thành kính tri ân đến Ngài Thiền sư viện trưởng Acinna và Ngài thiền sư phó viện trưởng Cittara đương nhiệm chủ trì tại trung tâm thiền viện Quốc tế Pa-Auk (Pa-Auk International Mediation Center – Myanmar) là hai bậc Sư phụ đã tận tâm chỉ dạy phương pháp Thiền định nầy đến bần đạo từ những năm qua. Đồng thời xin tri ân đến sự đóng góp nhiều cao kiến quý báu của chư đại đức đồng đạo nhất là đại đức giáo sư Sundara (Myanmar), đại đức giáo sư Dhammadhara (Myanmar), đại đức Kusalaguṇa (Thiện Đức), đại đức Nguyên Tuệ, tín nữ Huyền Thanh (Tú Anh)... cùng với lòng hảo tâm của chư thiện tín gần xa hoan hỷ hùn chung phần phước thiện tạo điều kiện thuận lợi cho cuốn sách đến tay quí vị đọc giả.

Nguyện cầu Ân Đức Tam Bảo và phần phước phát sanh do pháp bố thí chân lí thanh cao này hộ trì đến quí vị cùng bửu quyến luôn được đồi dào sức khỏe, thịnh vượng, phú quý, thân tâm thường an lạc, hằng tấn hóa trong mọi công việc Phước thiện và nhất là sớm hội đủ duyên lành để gặt hái những nguồn an vui mãi mãi, cao thượng như ước nguyện.

Đồng thời bần đạo thành tâm xin hồi hướng phước báu của pháp thí này đến các bận ân sư, đến hết thảy các chúng sinh, mong cho tất cả chúng sanh hoan hỷ với phước thiện thanh cao này và được an vui lâu dài.

Mặc dầu đã cố gắng hết sức mình, song hiềm vì khả năng có hạn, nên không làm sao tránh khỏi những sơ sót. Kính mong Chư Tôn hiền đức, các bậc thức giả cao minh, chư thiện trí xa gần hoan hỷ bổ chính, từ bi chỉ giáo. Bần đạo xin kính cẩn nghiêng mình thọ nhận lời phê bình, những cao kiến để những lần tái bản sau được hoàn thiện hơn nữa.

Xin chân thành tri ân đến quí vị.

Mandalay, Myanmar
Mùa an cư 25 tháng 7 năm 2005
Phật lịch 2549
Soạn dịch giả: Tỳ khưu Thiện Minh.

-ooOoo-

Chương I

SỨC KHOẺ THỂ CHẤT - SỨC KHOẺ TINH THẦN

Bốn yếu tố liên quan đến sức khỏe con người.

Đức Phật dạy: có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe của con người đó là:

1- Thức ăn,

2- Thời tiết,

3- Nghiệp (Bẩm sinh thể trạng cá nhân của mỗi người. Ảnh hưởng từ gene di truyền của huyết thống cha mẹ, tổ tiên... , và thói quen trong nghề nghiệp, sinh hoạt, hoạt động v.v...

4- Tâm (yếu tố tinh thần(1)) vui buồn giận ghét thương, yêu, thương nhớ, lo âu sợ hãi, trí tuệ, sự hiểu biết v.v...

1. Thức ăn liên quan đến sức khỏe như thế nào?

- Thức ăn nguồn dinh dưởng chính duy trì mạng sống con người.

- Khoa học ngày nay đã phát hiện và thống kê cho thấy một số không ít bệnh tật gây ra do mất quân bình trong việc ăn uống, cách dùng thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hằng ngày. Chẳng hạn như dùng quá nhiều thức ăn có chứa nhiều chất dầu mỡ dễ dẫn đến các chứng tăng cholesterol trong máu, các bệnh cao huyết áp, bệnh gan nhiễm mỡ, bệnh xơ cứng động mạch, v.v...

Một số có thói quen dùng quá nhiều chất đường hơn là nhu cầu của cơ thể dễ dẫn đến bệnh tiểu đường. Sự phát triển đầy đủ về thể chất của một thai nhi phần lớn cũng phụ thuộc vào chế độ nguồn dinh dưỡng đầy đủ từ người mẹ tương lai của đứa trẻ...

Một số mắc bệnh quáng gà gây ra do thiếu vitamin A trong cơ thể là dưỡng tố cần thiết cho thị giác là loại vitamin có nhiều trong dầu cá...

Do đó việc quan tâm quân bình điều hòa các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể rất là quan trọng trong phép dưởng sinh tăng cường sức khỏe, phòng ngừa nhiều chứng bệnh sinh ra do mất quân bình trong vấn đề nầy.

Nhu cầu cần thiết chủ yếu cho sự hoạt động và phát triển trong một cơ thể thường cần có các dưởng chất cơ bản như sau: protein, lipit, gluxit, các khóang chất, vitamin A, Vitamin B1, B6, B12, v.v...

- Các loại Protein (chất đạm): có nhiều trong đậu nành, các loại sữa tươi, bơ, đậu hũ, các loại protein tổng hợp được chiết xuất từ các nguồn động vật, thực vật có nhiều trên thị trường ngày nay.

- Các lipit: có nhiều trong các chất béo như các loại dầu thực vật, dầu phụng, dầu mè, bơ chiết xuất từ thực vật, chiết xuất từ các loại sữa tươi, sữa động vật, sữa bò, sữa dê v.v...

- Các loại gluxit: Có nhiều trong gạo, nếp, các loại đậu, các loại rau, củ, v.v...

- Gluco: Có nhiều trong các chất ngọt, như đường, mía, mật ong, các loại hoa quả chín ngọt như chuối, đu đủ, xoài...

- Các khoáng chất có nhiều trong các thực phẩm biển, trong một số rau, đậu, củ như là cà rốt, khoai tây, củ cải...

- Các loại Vitamin: Là chất hữu cơ cần thiết cho sự trao đổi chất và hoạt động bình thường cuả cơ thể.

Hiện nay phần lớn các loại vitamin được chiết xuất từ nhiều loại cây trái, thực vật tự nhiên, hoặc tổng hợp có bán nhiều trên thị trường như các loại multivitamins, multiminerals v.v... ...

Vitamin A: có nhiều trong dầu cá, trong một số loại trái cây như: bơ, đậu.

Vitamin B1, B6, B12: có nhiều trong gạo, nếp, gạo lức, cám gạo, cám nếp... đặc biệt có nhiều trong loại rau dền đỏ.

Vitamin C: có nhiều trong các loại hoa quả có vị chua như: Chanh, cam, bưởi, nho, chuối...

Vitamin E: có nhiều trong các mầm non sinh trưởng như các loại giá đậu từ các loại đậu như: giá đậu xanh, giá đậu đen, các mầm rau cải non, các chồi non, v.v...

Ăn uống điều độ chừng mực và đúng giờ hàng ngày tạo điều kiện cho cơ thể thiết lập một thói quen “phản xạ có điều kiện” giúp cho cơ quan tiêu hóa hoạt động mạnh mẽ và điều hòa hơn.

Thận trọng chọn lọc thức ăn đầy đủ dưỡng tố cần thiết cũng như thức ăn có tính chất "mát" hay các thức ăn có tính chất "ấm" phù hợp cho sức khỏe đối với thể trạng của mỗi cá nhân. Đây là một phương pháp dưỡng sinh tuy đơn giản nhưng rất quan trọng theo ngôn ngữ của các nhà y học đông phương gọi là : “nguyên lý quân bình âm- dương” cho cơ thể vậy.

Tuy nhiên đối với các trường hợp có bệnh tật liên quan đến chế độ ăn kiêng cữ, cũng như một số trường hợp đặc biệt khác cần thiết theo lời khuyên và sự hướng dẫn chi tiết của các Lương y, Bác sĩ điều trị...

2. Thời tiết liên quan đến sức khỏe như thế nào?

- Có những bệnh thường phát sinh vào mùa nóng như: một số bệnh thời khí như ban, sởi, đậu mùa, sốt xuất huyết, dịch hạch, thổ tả và nhiều loại bệnh phong thấp nhiệt sinh ra do khí hậu môi trường nóng, thời tiết thay đổi khắc nghiệt v.v...

- Lại có những bệnh thường phát sinh vào mùa lạnh như: Cảm cúm, các bệnh hen suyễn do lạnh, một số bệnh phong mề đay, các bệnh phong thấp, đau cơ, đau xương do lạnh v.v...

Do đó thời tiết, khí hậu môi trường xung quanh rất ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người cũng như mọi sinh vật...

Việc lưu tâm tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin theo các chương trình tiêm chủng của quốc gia, cũng như ứng dụng nhiều biện pháp khoa học tiên tiến hiện nay để tăng cường khả năng phòng ngừa bệnh tật phát sinh, cần thiết đi đến các phòng khám hoặc các bệnh viện, trung tâm y tế... để khám bệnh định kỳ, nhờ đó mà có thể dễ dàng phát hiện sớm một số loại bệnh tật mới phát sinh trong giai đoạn ban đầu. Thuận tiện dể dàng cho việc phòng ngừa và điều trị hơn.

Ngoài ra việc chọn lựa nơi trú xứ khí hậu phù hợp, thích nghi với cơ thể của mỗi người để ở hoặc dưỡng bệnh là một trong những phương pháp phòng ngừa và dưỡng sinh tốt cho cơ thể, góp phần duy trì và kéo dài được tuổi thọ.

3. Nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

- Bẩm sinh (di truyền),

- Thói quen,

- Nghề nghiệp và sinh hoạt v.v...

a. Bệnh sinh ra do ảnh hưởng di truyền (gen di truyền từ tổ tiên, họ hàng, còn gọi là bệnh bẩm sinh):

- Khoa học đã chứng minh và tìm ra được nhiều bệnh bẩm sinh do ảnh hưởng gen di truyền từ bố mẹ, tổ tiên. Vì thế mà có một số bệnh được hình thành ngay trong giai đoạn thai bào, hay ở giai đoạn vừa mới sinh ra... Vì lẽ đó mà việc phát hiện sớm những dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh để kịp thời áp dụng những phương tiện, phương pháp trị liệu của y khoa hiện đại tân kỳ để can thiệp là một điều quan trọng và cần thiết lắm vậy.

b. Bệnh sinh ra do ảnh hưởng nghề nghiệp:

- Một số bệnh sinh ra do ảnh hưởng từ sự hoạt động của cơ thể, từ công việc, nghề nghiệp như một số bệnh đau cột sống thường gặp tại các bệnh viện do công việc ngồi lâu, trong tư thế xiên vẹo cột sống, các nghề văn thư, lái xe đường xa, khuân vác nặng... những nghề nghiệp ngồi lâu ít vận động, ít thay đổi tư thế hoặc ít đi lại dễ gây ra nhiều loại bệnh tật như các bệnh đau khớp, bệnh gai hóa cột sống, tê bại, một số bệnh về hệ thống đường tiêu hóa như đau dạ dày, đau các cơ đường ruột, các bệnh đường tiết niệu như sỏi thận v.v...

Do ngồi lâu không thay đổi tư thế, ít vận động làm máu huyết khó lưu thông điều hòa, dẫn đến hạn chế quá trình chuyển vận khí huyết tại các phần trong cơ thể gây trì trệ quá trình trao đổi chất giữa các chất trong máu, trong cơ địa dẫn đến, trì trệ quá trình thanh thải các chất cặn bã của cơ thể. Từ đó gây ra nhiều loại bệnh tật v.v... (2)

Do đó việc vận động thay đổi tư thế, đi lại hay một vài động tác thể dục xen kẽ giữa các giờ làm việc thật sự hết sức cần thiết và bổ ích cho việc điều hòa sức khỏe.

c. Bệnh sinh ra do thói quen:

- Một số thói quen trong ăn uống cũng dễ gây ra nhiều bệnh tật như: Một số trường hợp có thói quen dùng các chất rượu có chứa nồng độ cồn (alcohol) quá cao làm ảnh hưởng đến chức năng thanh lọc của gan dẫn đến gây ra nhiều bệnh trầm trọng về gan như: xơ gan cổ trướng, ung thư gan (là những bệnh chứng mà chức năng gan đã bị suy hoại nhiều), rất khó khăn cho việc điều trị của lương y, bác sĩ, dể gây nguy hại đến thọ mạng của bạn v.v...

- Lưu tâm đến vấn đề quân bình giờ giấc sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi, thư giản trong hằng ngày, đi lại vận động nhẹ giữa các giờ làm việc... khá quan trọng và cần thiết là điều kiện hỗ trợ cho cơ thể tái lập lại sự quân bình điều hòa của sức khỏe.

Điều hòa giờ giấc làm việc sinh hoạt và nghĩ ngơi là yếu tố không kém quan trọng trong phương pháp dưỡng sinh nhằm tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ.

4. Yếu tố tinh thần (hay tâm) liên quan đến sức khỏe như thế nào?

a. Vai trò và tầm quan trọng của yếu tố tinh thần:

- Tinh thần, tư duy chủ đạo trong mọi suy nghĩ, lời nói và hành động. Từ việc tối cao nhất là quyết định mọi sự suy nghĩ: tư duy việc tốt, việc nên làm, việc không nên làm; điều khiển từng lời nói chí đến sai khiến chân tay làm việc, tạo tác hầu hết mọi hành động, mọi công việc đều do tinh thần (tâm) làm chủ đạo tất cả trong mỗi con người chúng ta.

- Y học đông phương thường đề cập đến bảy trạng thái tinh thần có khả năng gây ra bệnh tật như sau: Hỷ, nộ, bi, ưu, ái, ố, và dục.

1) Hỷ: Trạng thái tinh thần vui mừng thái quá; không chừng mực lâu ngày cũng có khả năng sinh ra bệnh tật. “Vui quá hại Tâm” thường dẫn đến các chứng bệnh cơ năng về tim mạch.

2) Nộ: Trạng thái tinh thần nóng giận hoặc uất ức không vừa lòng; giận thái quá sinh ra bệnh tật. Thường ảnh hưởng đến các bệnh về gan. "Giận tổn thương can (gan)."

3) Bi: Trạng thái tinh thần thương tiếc, bi lụy quá độ, lâu ngày cũng có khả năng sinh ra bệnh tật. "Thương quá hại Tỳ." Thường ảnh hưởng chức năng của hệ tiêu hóa.

4) Ưu: Trạng thái tinh thần buồn rầu, lo âu, ưu tư phiền muộn quá độ, lâu ngày cũng có khả năng sinh ra bệnh tật. "Lo quá hại Phế " Liên quan ảnh hưởng đến hệ hô hấp, một số bệnh về phổi v.v...

5) Ái: Trạng thái tinh thần thương nhớ quá độ lâu ngày cũng có khả năng sinh ra bệnh tật.

6) : Trạng thái tinh thần gắt gỏng, đố kỵ, không vừa lòng, nuôi dưởng âm ĩ trong lòng, lâu ngày quá cũng có khả năng sinh ra bệnh tật.

7) Dục: Trạng thái tinh thần sắc dục thích muốn quá độ... lâu ngày cũng có khả năng sinh ra bệnh tật. "Dục quá hại Thận "

Cổ nhân có câu: “Trí tuệ không có trong một cơ thể bạc nhược” do đó mà chính cơ thể khỏe mạnh mới hỗ trợ cho tinh thần minh mẫn làm việc tốt hơn.

Có câu: “Tư tưởng không thông, mang bình đông cũng không nỗi” cho thấy chính tinh thần lại là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định cho sức khỏe và năng suất lao động của mỗi con người.

Chẳng hạn vì một lý do khủng hoảng nào đó khiến cho tinh thần chúng ta bất an, lo lắng, sợ hãi, phiền muộn... mặc dù lúc đó thân thể tuy đang khỏe mạnh nhưng chân tay rụng rời bải hoải, cũng không phát huy được năng lực làm việc của mình. Do đó mà khi tinh thần làm việc quá nhiều căng thẳng hoặc gặp nhiều điều phiền muộn, bất an, trước những cảnh trái ý nghịch lòng làm cho trạng thái tinh thần suy sụp dẫn đến toàn cơ thể mệt mỏi, bại hoại kéo dài v.v... Trong trường hợp nầy, cho dù cơ thể không bệnh, đang khỏe mạnh nhưng cũng không thể phát huy tốt được năng lực của mình như những lúc bình thường.

Thuật dưỡng sinh có câu: “Tâm bình thì khí hòa” “Khí như ngựa, huyết như xe” (Khí huyết ví như ngựa kéo xe)

- Khi tinh thần (hay tâm) được định tỉnh, sáng suốt thì tâm bình lặng an vui, do đó mà khiến cho khí thơ thới, hòa bình, khí trở nên mạnh chuyển vận được huyết dịch điều hòa đến nuôi dưỡng các lục phủ ngủ tạng tăng cường sức khỏe, cũng chính là tăng cường sức đề kháng giúp ngăn ngừa được nhiều bệnh tật cho cơ thể.

Vì vậy, mà liên quan chặt chẽ về sức khỏe thể chất của con người đó là sức khỏe của tinh thần là yếu tố hỗ tương quan trọng không thể thiếu để góp phần quyết định cùng song song tồn tại trong cuộc sống của chúng ta.

b. Vai trò của thiền định đối với sức khỏe tinh thần:

- Thiền định là một phương pháp mang lại sức khỏe tinh thần và thể chất cũng như điều hòa sự an vui cho nội tâm, độc đáo và phong phú được phát triển từ ngàn xưa chủ yếu ở các nước châu Á như Ấn độ, Lào, Miến điện, Singapore, Thái Lan, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, ... Ngày nay thiền định đã được phổ biến rộng rãi khắp năm châu như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,...

Thiền định cũng được xem như một môn luyện tập dưỡng sinh vô cùng hữu ích, "bổ dưỡng" cho tinh thần và giúp cho cơ thể tái lập lại sự quân bình một cách nhanh chóng, nhất là sau những giờ lao động chân tay hoặc lao động trí óc căng thẳng mệt nhọc, hay những lúc bất an, muộn phiền v.v...

Chúng ta có thể tranh thủ nhiều cơ hội thực tập để áp dụng thiền định ở bất cứ nơi đâu, hay vào bất cứ thời gian nào cũng đều thích hợp và lợi ích như trong một vài trường hợp kể ra sau đây:

- Những lúc tinh thần trong trạng thái mệt mỏi, bất an, chúng ta chú tâm đến hơi thở và theo dõi, ghi nhận hơi thở vào, hơi thở ra trong vài phút thì tâm chúng ta sẽ trở lại định tĩnh, bình an và sáng suốt, để xử lí công việc nhiều hiệu quả hơn.

Thay vì phải dành năm mươi phút, hay cả giờ nóng lòng chờ đợi xe, tàu, chờ đợi một vài công việc hoặc chờ đợi một người quen nào đó... , nhân cơ hội ấy chúng ta hướng tâm theo dõi hơi thở để thực tập phát triển định tâm. Lúc đó hành giả sẽ thấy thời gian cả giờ đồng hồ trôi qua mà tưởng chừng như trong chốc lát!

Thời gian ta phải chờ đợi đèn xanh, đèn đỏ trên đường phố là cơ hội tốt cho ta trở về nương tựa lại hơi thở trong chốc lát.

Sau những lúc mệt nhọc về thể xác, mệt nhọc về tinh thần, chúng ta chỉ cần ngồi hoặc nằm trong tư thế thoải mái thư giản toàn thân, hướng tâm quay về hơi thở và ghi nhận hơi thở vào, hơi thở ra chỉ trong chốc lát, hành giả sẽ tái lập lại sự quân bình cho sức khỏe rất nhanh chóng và hữu hiệu.

Khi hành giả đã quen và thuần thục với đề mục hơi thở rồi thì thời gian dành cho việc tái lập lại sự cân bằng, phục hồi sức khỏe sẽ nhanh chóng hơn nữa.

Lợi ích của thiền định thật là lớn lao không thể kể xiết, hành giả tập luyện thiền định dưỡng sinh nầy có khả năng góp phần ngăn ngừa và điều trị được một số chứng bệnh cơ năng như:

+ Chứng bệnh cao huyết áp vô căn là loại bệnh mà y học Tây phương chưa tìm ra nguyên nhân;

+ Chứng mất ngủ lâu ngày;

+ Nhiều chứng bệnh thuộc về thần kinh, tâm lý, tâm thần như:

- Người bị khủng hoảng thần kinh căng thẳng kéo dài (stress),
- Suy nhược thần kinh (cardiasthenia),
- Chứng suy nhược tâm thần (psychasthenia),
- Bệnh thần kinh tâm lý (psychoneurosis). v.v...

Ngoài ra thiền định còn làm tăng cường sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tinh thần, giúp tăng cường trí nhớ tốt cho việc học tập và nghiên cứu...

Thiền định cũng góp phần phát huy năng lực làm việc của cơ thể. Là một phương pháp dưỡng sinh đơn giản nhưng vô cùng hữu hiệu, góp phần làm chậm quá trình lão hóa và khả năng kéo dài tuổi thọ cao... .

Đến đây bần đạo xin trình bày về phương pháp hành thiền định qua cách niệm hơi thở (Ānāpānasati).

-ooOoo-

Chương II

THIỀN ĐỊNH
Pháp niệm hơi thở
(Ānāpānasati)

1. Đức Phật tán dương về thiền định:

"Nầy Chư Tỳ khưu! Thiền định theo pháp niệm hơi thở nầy nếu được phát triển, được huân tập nhiều, tâm sẽ được an tịnh, thanh cao và thù thắng(3) ."

Thiền định có khả năng làm cho thân được an lạc (kāyikasukha), tâm được an lạc (cetasikasukha), là phương pháp làm cho cuộc sống vô cùng an vui hạnh phúc.

Sự chứng đắc pháp thiền định (chứng đắc Sơ thiền, Nhị thiền... ) có khả năng làm cho tiêu tan, làm yên lặng hầu hết tất cả những những điều thấp hèn, những điều tai hại vô phước, những bất thiện pháp... Trong chốc lát vậy".

Đức Phật dạy, trong Kinh Milanda có đoạn trích như sau:

"Này Chư Tỳ khưu! Hãy rèn luyện thiền định, khi tâm đã được an tịnh rồi, chư Tỳ khưu sẽ biết được tất cả sự thật, chân lí của thế gian."

“Thiền định là nơi hướng về, nơi nương tựa, nâng đở để thành tựu hầu hết tất cả các phước lành quí báu trong thế gian. Thiền định được ví như:

Khi Đức vua xông trận cùng với voi binh, mã binh, thuỷ binh, bộ binh... Tất cả các binh voi, tướng mã đều dưới sự chỉ huy quả Đức vua hùng mạnh, đều hướng về trông cậy, nương tựa vào oai lực Đức vua như thế nào thì sự thành tựu các Phước báu trong thế gian hết thảy đều hướng về, nương tựa vào thiền định cũng dường như thế ấy."

“Thiền định còn có thể ví như một cây kèo lớn của một mái nhà, là chỗ nương tựa, hướng về của các cây rui, mè, lách v.v... cũng dường như thế ấy."

2. Các bước chuẩn bị vào thiền:

A. Điều hòa thân:

* Nguyên tắc chung:

- Giữ cho thân trong tư thế được thoải mái, không bị các cảm thọ nóng, lạnh, chật, hẹp, tê mỏi, đau nhức ... chi phối, để tâm hành giả dễ dàng an trú vào đề mục hơi thở ngay từ lúc ban đầu.

- Y phục: Y phục lỏng rộng, nới thắt lưng (nịt) cho thoải mái, để khí huyết dễ dàng lưu thông. Ngồi xếp bằng trên mặt phẳng (nếu ngồi trên nền đất, xi măng) thì cần tấm lót để tránh độ ẩm của đất: gỗ mỏng hoặc vải, rơm rạ, v.v...

- Tư thế ngồi: Ngồi xếp bằng tự nhiên, tuỳ theo phương tiện cơ thể của mỗi hành giả. Nhưng điều quan trọng là ngồi thoải mái tự nhiên, giữ phần trên thẳng (lưng thẳng, đầu cổ thẳng).

Kiểu ngồi của các thiền Sư Miến Điện là ngồi xếp bằng tự nhiên, hai chân xếp gấp lại theo kiểu một chân trong, một chân ngoài (hai chân không bắt chéo hoặc chồng lên nhau). Chân trái trong hay ngoài tuỳ thích. Hai mắt khép lại tự nhiên, hai tay đặt tự nhiên trên chân trong, tay trái dưới tay phải trên hoặc ngược lại tuỳ thích.

* Đặc biệt nên lưu ý về tư thế ngồi, kiểu ngồi:

Hành giả ngồi sao cho chân tránh gây các cảm giác khó chịu ngay lúc đầu gây ra bởi: tê, nhức, đau, mỏi... Vì những cảm giác khó chịu ngay từ đầu sẽ làm cho hành giả rất khó định tâm trên đề mục của thiền”. Với tư thế thoải mái sẽ giúp cho hành giả dễ dàng định tâm an trú trên đề mục. Hành giả có thể ngồi một cách tự nhiên trên ghế dựa, hai chân thỏng xuống đất thoải mái và nhất là giữ lưng cho được thẳng.

Đối với những hành giả có chân to, bắp vế lớn, hoặc các hành giả chân bị đau tê không thể ngồi xếp bằng tự nhiên như trên được, thì có thể ngồi trên các toạ cụ (đòn kê) cao khoảng: 3 phân, 5 phân, một tấc hoặc hai tấc (tương đương một gang tay) v.v... để phù hợp với điều kiện của cơ thể.

* 1. Thiền trong tư thế đứng:

Hành giả có thể an trú tâm trên hơi thở và ghi nhận hơi thở vào, hơi thở ra trong tư thế đứng yên lặng lẽ, mắt nhắm lại, hai tay buông thõng tự nhiên theo thân hoặc lấy tay nọ cầm "vịn" nhẹ vào cổ tay kia (đặt về phía trước bụng hay sau lưng tuỳ ý.)

* 2. Thiền trong oai nghi đi (đi kinh hành):

Hành giả vừa đi vừa an trú tâm vào hơi thở, đi chậm rãi, thong thả. Đi kinh hành thường xen kẽ với những thời ngồi thiền. Các trung tâm thiền tại Myanmar theo lịch trình là cứ một giờ ba mươi phút ngồi thiền xen kẽ một giờ đi kinh hành để quân bình các oai nghi hỗ trợ sự phát triển đều đặn của thiền tâm.

Về sau, khi sự thực hành đã thuần thục rồi thì có thể ngồi trong thời gian dài hay ngắn tùy thích.

* 3. “Thiền trong oai nghi nằm “đặc biệt dành cho thư giãn nghỉ ngơi”:

Khi cơ thể mệt mỏi, hoặc sau những giờ làm việc mệt nhọc: Hành giả có thể nằm ngửa trên giường trong tư thế thoải mái, duỗi hai chân, hoặc hơi gập hai đầu gối chân lại một chút, hai tay đặt tự nhiên lên ngực thoải mái, đầu đặt tựa lên một gối mỏng, sao cho toàn thân hoàn toàn thư giản thoải mái, sau đó hướng tâm đến đề mục hơi thở vào và hơi thở ra một cách tự nhiên.

Hoặc hành giả có thể ngồi theo kiểu nửa nằm nửa ngồi trên một ghế dựa, hay ghế bành, toàn thân buông lỏng, hai tay đặt tự nhiên trên bụng hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau, hoặc hai tay đặt trên hai bệ cạnh ghế...

B. Điều hòa tâm

Niệm hơi thở:

* Vấn đề lưu ý:

-Phuṭṭhaphuṭṭhokāse pana satiṃ ṭhapetvā bhāvenatasseva bhāvanā samapajjati. (4)

- Hành giả theo dõi, quán sát và chánh niệm trên hơi thở vào hơi thở ra ở tại nơi “xúc chạm” của gió ra, gió vào qua lổ mũi. Khi chánh niệm được duy trì tốt đẹp trên “điểm xúc chạm” nầy, thì sự phát triển thiền tâm đối với thiền định theo phương pháp hơi thở của hành giả có thể đi đến thành công tốt đẹp vậy.

* Nimitta là gì? - Là một trạng thái màu sắc xuất hiện trong quá trình hành thiền là kết quả của sự an tịnh tâm.

- Một cách khác, Nimitta là một dạng ấn chứng , xuất hiện trong quá trình hành thiền.

- Có rất nhiều dạng Nimitta (dạng ấn chứng) khác nhau nhưng chủ yếu định chia làm 3 loại chính dưới đây.

* Lưu ý

Ba dấu hiệu chính:

"Athānena taṃ nimittaṃ neva vaṇṇato manasi kātabbaṃ, na lakakhaṇato paccavekkhi-tabbaṃ. (5) "

Có ba loại dấu hiệu (nimitta) trong pháp niệm hơi thở đó là:

1. Loại tợ tướng (Parikammanimitta)
2. Loại học tướng (Uggahanimitta)
3. Loại quang tướng (Paṭi-bhāganimitta).

1. Tợ tướng (Parikammanimitta):

- Khi thực tập theo trình tự các bước niệm hơi thở vào, hơi thở ra. Rồi đến thở vào dài, thở ra dài; thở vào ngắn, thở ra ngắn... Sự định tâm dần dần trở nên sung mãn thì xuất hiện loại dấu hiệu giống như màu màn khói dơ dơ gọi là tợ tướng.

2. Học tướng (Uggahanimitta)

- Do năng lực định tâm của hành giả dần dần phát triển mạnh hơn và dấu hiệu màu trắng phau phau giống như bông gòn xuất hiện – (Đây là dấu hiệu thường xảy ra tuy nhiên cũng có một số trường hợp xuất hiện những màu sắc khác...) gọi là học tướng.

3. Quang tướng (Paṭibhāganimitta)

Do năng lực định tâm của hành giả dần dần phát triển mạnh, sung mãn hơn mà xuất hiện dấu hiệu màu sắc sáng chói, minh bạch, rực rỡ, lấp lánh như sao mai (thường gặp) gọi là quang tướng.

* Các vấn đề cần tránh:

a. Trong khi hành thiền nếu có xuất hiện màu khói, màu trắng, hay màu sáng chói chẳng hạn, thì không nên "đọc" các màu nầy trong tâm.

Ví dụ: Có màu khói lam xuất hiện, thì không nên "đọc" trong tâm là: màu lam, màu lam, màu lam... ! Vì như vậy vô tình hành giả đã chuyển thiền tâm từ pháp niệm hơi thở nầy đi lệch sang thiền về các biến xứ(6) ... (Nhưng cho dù có niệm như vậy cũng không thể trở thành thiền biến xứ được!) Và nếu như vậy sẽ làm cho hành giả bị phân tâm và do đó giảm sự tập trung của tâm vào đề mục chính là hơi thở.

b. Các trạng thái tự nhiên của bốn yếu tố trong cơ thể chúng ta bao gồm:

- Đất (địa đại Pathavī): Là trạng thái cứng-mềm; nặng-nhẹ; nhám-láng... là những trạng thái tự nhiên thuộc về bản chất của đất.

- Nước (thuỷ đại Āpo): Là trạng thái kết dính, lỏng dẻo, thấm rịn... là những trạng thái tự nhiên thuộc về bản chất của nước.

- Lửa (hoả đại Tejo): Là trạng thái nóng-lạnh, ấm mát... là những dấu hiệu tự nhiên thuộc về bản chất của lửa.

- Gió (phong đại Vāyo): Các trạng thái chuyển động như co; đẩy... là những dấu hiệu tự nhiên thuộc về bản chất của gió.

Tương tự cũng như tất cả các dấu hiệu vật lý tự nhiên của Tứ đại nóng, lạnh... Nếu đọc thầm trong tâm tên gọi của một bản chất nào đó... (ví dụ như đọc: cứng cứng, hay mát mát, v.v...) thì thiền tâm đã chuyển sang hướng thiền về đề mục “biến xứ” rồi, không còn là đề mục của hơi thở nữa, do đó hành giả không nên đọc thầm trong tâm.

c. Tất cả các dấu hiệu như: Vô thường, khổ, vô ngã hay các dấu hiệu Khổ, con đường diệt khổ, và những dấu hiệu có những tên gọi thông thường, hành giả cũng không nên "đọc" niệm trong tâm, mà vẫn theo dõi hơi thở ra, hơi thở vào một cách đơn thuần tự nhiên như lúc đầu mà thôi.

Và cũng không nên hành xen kẽ những pháp vô thường, khổ, vô ngã ... Không nên quán niệm “Thở vào sinh diệt, vô thường”; “Thở ra sinh diệt, vô thường” v.v...

Chư bậc thiện trí nhờ sự định tâm trên hơi thở vào, hơi thở ra nầy mà có thể thấy được vạn pháp trong tự thân.

Khi mà thiền định được phát triển sung mãn hành giả sẽ thấy được tất cả những gì trong cơ thể của chính mình một cách tường tận rõ ràng.

* 1. Phương pháp niệm hơi thở - (Gaṇanā)

Tập trung, theo dõi quán sát hơi thở ra - hơi thở vào để thấy được điểm chạm (điểm tiếp xúc) của hơi thở ra, hơi thở vào với phần “quanh lỗ mũi” (một trong hai lổ) hoặc “vùng giữa” của râu hàm trên.

Nói một cách khác hành giả đặt tâm trú ngay vùng giữa của râu hàm trên đồng thời chú tâm theo dõi hơi thở ra, hơi thở vào liên tục không gián đoạn.

Không theo dõi hơi thở vào sâu phía bên trong lổ mũi, cũng không theo dõi hơi thở ra bên ngoài lổ mũi(7).

Chỉ đặt tâm ngay chỗ có sự “xúc chạm” của hơi thở đi ra, đi vào và theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra một cách tự nhiên ở đó.

Gặp trường hợp thỉnh thoảng hành giả không còn thấy hơi thở nữa, vào lúc đó hành giả hãy đặt tâm theo dõi ngay nơi xúc chạm rõ nhất mà “chờ đợi” ở đấy, một chốc hành giả sẽ thấy biết sự hiện diện của hơi thở trở lại.

Tập trung chánh niệm (sự hay biết), một cách liên tục để biết sự xúc chạm giữa hơi thở ra- hơi thở vào với phần “quanh lỗ mũi” (một trong hai lổ) hoặc “vùng giữa” của râu hàm trên và luôn luôn gìn giữ sự hay biết hơi thở ra, vào tiếp xúc tại vùng này thường xuyên liên tục.

Và cứ như vậy chú tâm quán sát theo dõi chặt chẽ (hơi thở ra - hơi thở vào):

+ “Thở vào vị ấy biết tôi đang thở vào”

+ “Thở ra vị ấy biết tôi đang thở ra”... một cách liên tục trong khoảng nữa giờ, hoặc một giờ là tốt (lúc nầy tâm dần dần am tịnh).

­­­Và cứ mỗi lần hành thiền như vậy khoảng nữa giờ hay một giờ đồng hồ, mà thiền tâm của hành giả luôn có sự chánh niệm liên tục (sự hay biết ghi nhớ liên tục) tại nơi xúc chạm của hơi thở ra- vào thì hành giả có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo là (Dài- ngắn) nghĩa là:

+ “Thở vào dài vị ấy biết tôi đang thở vào dài”

+ “Thở ra dài vị ấy biết tôi đang thở ra dài”... sau vài mươi phút hơi thở dần dần ngắn lại, hành giả tiếp tục chuyển qua giai đoạn hơi thở ngắn:

+ “Thở vào ngắn vị ấy biết tôi đang thở vào ngắn”

+ “Thở ra ngắn vị ấy biết tôi đang thở ra ngắn”

- Và như vậy trong thời gian ngắn khoảng 15phút, rồi sau đó chuyển qua giai đoạn kế tiếp…

* 2. Phương pháp số đếm

Thật sự nếu niệm theo cách trên ngay từ đầu mà tâm không thể an trú được nhiều trên hơi thở mà thỉnh thoảng tâm lại phóng đi nhiều trong đại chú giải của Tam Tạng Kinh đề nghị theo phương pháp đếm như sau:

1. Thở vào - thở ra - đếm một (8)
2. Thở vào - thở ra - đếm hai
3. Thở vào - thở ra - đếm ba
4. Thở vào - thở ra - đếm bốn
5. Thở vào - thở ra - đếm năm
6. Thở vào - thở ra - đếm sáu
7. Thở vào - thở ra - đếm bảy
8. Thở vào - thở ra - đếm tám...

Hành giả cứ luôn chánh niệm, duy trì sự hay biết trên từng hơi thở và đếm như vậy, cố gắng giữ cho tâm bám chặt vào số đếm, giữ cho tâm không lang thang suy nghĩ, hay để ý tới các đối tượng bên ngoài đề mục(9). Trong trường hợp nầy hành giả cần thiết có sự cố gắng nhiều hơn một chút.

- Có thể đếm từ 1 đến 5

- Hoặc từ 1 đến 10. (Đừng đếm dưới 5 và cũng không nên đếm quá 10.)

- Trong khoảng từ 5 đến 10 hành giả có thể chọn mốc tuỳ thích.

- Vận dụng phương pháp đếm nầy thật sự vô cùng hữu hiệu, dần dần hơi thở của hành giả sẽ trở nên an tịnh và yên lặng.

- Cứ mỗi lần hành thiền như vậy từ nửa giờ đến một giờ tâm thanh tịnh an trú dần vào hơi thở... Khi tâm đã được gắn nhiều vào hơi thở và an tịnh dần dần, đến một lúc nào đó ta “Thử” buông số đếm, không cần đếm nữa và tiếp tục trở lại như lúc ban đầu:

- “Thở vào ta biết ta thở vào”; “Thở ra ta biết ta thở ra”... đến giai đoạn nầy nếu thấy tốt rồi thì hành giả cần phát nguyện: “Nguyện cho Tâm tôi được thanh tịnh an trú vào hơi thở trong thời gian 5 phút.” Nếu thành công tiếp tục phát nguyện tâm an trú trong hơi thở trong vòng 10 phút. Nếu thành công rồi tiếp tục phát nguyện an trú tâm trong vòng 30 phút, rồi sau đó dần dần tăng lên nguyện tâm an tịnh trong một giờ v.v…

* 3. Dài và ngắn, (1) và (2)

Khi mà vận dụng phương pháp như trên với số đếm thành công rồi hành giả chuyển qua giai đoạn Dài-Ngắn.

Trong phương pháp thiền hơi thở có bốn trình tự nầy (Ānāpāna pathamacatukka) :

1. Dīgha: Dài
2. Rassa: Ngắn
3. Sabbakāya: Toàn bộ hơi thở vào và toàn bộ hơi thở ra
4. Passambhaya: Làm cho hơi thở yên lặng...

1. Dīghaṃ vā assasanto “Dīghaṃ assasāmi” Ti pajānāti. Dīghaṃ vā passasanto “Dīghaṃ passa-sāmi” Ti pajānāti.

2. Rassaṃ vā assasanto “Rassaṃ assasāmi” Ti pajānāti. Rassaṃ vā passasanto “Rassaṃ passa-sāmi” Ti pajānāti. (10)

1) Trường hợp hơi thở dài (Dīgha):

+ Thở vào dài “biết rõ” thở vào dài

Quán sát cặn kẽ, tỉ mỉ trọn vẹn quá trình hơi thở vào.

Tương tự như vậy:

+ Thở ra dài “biết rõ” thở ra dài

Quán sát cặn kẽ, tỉ mỉ trọn vẹn quá trình hơi thở ra.

2) Trường hợp hơi thở ngắn (Rassa):

+ Thở vào ngắn “biết rõ” thở vào ngắn

Quán sát cặn kẽ, tỉ mỉ trọn vẹn quá trình hơi thở vào.

Tương tự như vậy:

+ Thở ra ngắn “biết rõ” thở ra ngắn.

Quán sát cặn kẽ, tỉ mỉ trọn vẹn quá trình hơi thở ra.

+ Theo bộ chú giải Mahāṭīkā sự chú tâm quán niệm theo dõi hơi thở cần phải có sự tương đồng hợp nhất giữa thời gian và hơi thở.

+ Nghĩa là: Nếu thở vào dài - thở ra dài thì thời gian cũng phải dài tương ứng.

+ Nếu thở vào ngắn - thở ra ngắn, thì thời gian cũng phải ngắn tương ứng.

+ Đối với Dài-Ngắn: không nên cố gắng làm cho hơi thở ngắn lại và cũng không nên cố gắng làm cho hơi thở dài hơn ra theo ý mình!. Hãy để hơi thở đi ra đi vào như tự nhiên của nó. Khi chúng ta có tác ý cố gắng “sửa” hơi thở dài hơn ra hoặc làm cho hơi thở ngắn bớt lại sẽ khiến chúng ta dễ dàng mất sự định tâm.

Trước tiên chú tâm chánh niệm vào hơi thở:

Hơi thở vào – hơi thở ra” Tập như vậy hoặc quán hơi thở vào – hơi thở ra theo số đếm (tuỳ ý) - Nếu cần không đếm cũng được hành giả cố gắng để cho sự "chánh niệm" (sự hay biết) được thường xuyên liên tục, bám chặt trên hơi thở vào – hơi thở ra.

Khi sự chánh niệm (hay biết) được duy trì liên tục như vậy là lúc tâm bắt đầu đi đến sự an tịnh yên lặng. Và đến lượt ta cần cố gắng để biết sự thở dài, ngắn của nó. Nếu nó dài chỉ cần “biết rõ” nó dài theo tự nhiên của nó. Nếu nó ngắn chỉ cần “biết rõ” nó ngắn theo tự nhiên của nó. Không nên niệm theo: “dài, ngắn”. Nếu thấy lúc đó cần thiết muốn niệm thì chỉ nên niệm “Thở vào- Thở ra”. Đến đây vấn đề “biết” dài; ngắn đã tạm đủ rồi.

Không nên kiểm tra rằng: lúc nầy là ngắn hay dài, hành giả sẽ dễ mất định tâm. Hãy cố gắng tập trung vào “dài- ngắn” của hơi thở ra- hơi thở vào để có được sự định tâm trong một giờ, hai giờ đồng hồ v.v...

+ Vào lúc đó, nếu xuyên suốt cả một thời hành thiền (suốt 1 giờ chẳng hạn) mà thấy hoàn toàn là chỉ có thở vào dài – và thở ra dài thì việc thực tập thiền của hành giả cũng không sai phạm gì! Thông thường không có trường hợp bao giờ cũng luôn luôn có sự giống nhau đều đặn giữa một lần thở nầy với một lần thở khác trong vô số lần thở, vì có thể nhanh hơn, hoặc chậm hơn giữa các lần thở.

+ Hành giả luôn gìn giữ tâm định tỉnh thường xuyên theo dõi hơi thở ra vào.

* Vấn đề đặc biệt lưu ý

+ Trong lúc hành thiền: Nếu thì thở vào dàithì thở ra lại ngắn, một thời gian sau toàn thân trên của hành giả sẽ bị đẩy ngữa về phía sau.

+ Ngược lại trong lúc hành thiền: Nếu thì thở vào ngắnthì hơi thở ra lại dài, trong một thời gian sau toàn thân trên của hành giả sẽ bị đổ về phía trước.

Do đó mà sự chánh niệm (sự hay biết) sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc điều hòa hơi thở giữa hai thì thở ra và thì thở vào của hành giả.

Nếu dài cũng để cho điều hòa; nếu ngắn cũng để cho điều hòa.

+ Khi mà sự tập trung vào đề mục hơi thở Dài- Ngắn trong 1 giờ, 2 giờ... với mọi thời hành thiền mà thiền tâm đã bám sát được hơi thở rồi. Hành giả cần tiếp tục cố gắng chú niệm kiểm soát vào: chặng đầu - chặng giữa - chặng cuối của tiến trình “Thở vào" và tương tự chú niệm kiểm soát vào: chặng đầu - chặng giữa - chặng cuối của tiến trình “Thở ra" sao cho hành giả nhận được chi li cặn kẽ trong toàn bộ tiến trình của hơi thở là tốt.

* 4. Tập trung chánh niệm trên toàn bộ quá trình "dài- ngắn" của hơi thở:

“Sabbakāya paṭisaṃvedī assasissāmī'ti sikkhati;
“Sabbakāya paṭisaṃvedī passasissāmī'ti sikkhati"
(11)

Hành giả cố gắng để nhận biết một cách hết sức rõ ràng, tỉ mỉ, xuyên suốt trong ba giai đoạn cho một quá trình của hơi thở vào và cho một quá trình của hơi thở ra:

* Khi thở vào hành giả “biết” rõ ràng tất cả chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối của toàn bộ tiến trình hơi thở vào.

* Khi thở ra hành giả “biết” rõ ràng tất cả chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối của toàn bộ tiến trình hơi thở ra (tập như vậy).

Có thể tóm tắt toàn bộ các phần  trình bày trên như sau:

a/ Trước tiên:

- Tập trung chánh niệm trên hơi thở ra, hơi thở vào sao cho sự hay biết luôn luôn được liên tục trên hơi thở.

b/ Sau đó:

- Chuyển qua cố gắng gìn giữ chánh niệm cho được liên tục trên “dài-ngắn”. Khi mà sự chánh niệm đã được gắn chặt làm chủ được trên hơi thở “dài- ngắn” một cách tỉ mỉ vững chãi rồi tiếp tục chuyển qua:

c/ Ở giai đoạn quán niệm theo 3 chặng: Trong một tiến trình thời thở vào (ra) như  sau:

- Thở vào ta nhận biết: Đây là chặng đầu, đây là chặng giữa và đây là chặng cuối của thời thở vào.

- Thở ra cũng tương tự nhận biết ba chặng như vậy: Đây là chặng đầu của thì thở ra, đây là chặng giữa, đây là chặng cuối của thì thở ra.

Chú ý: Trong lúc hành thiền hành giả không nên niệm trong tâm rằng:

“Đây là đoạn đầu; đây là đoạn giữa; đây là đoạn cuối” vì niệm như vậy sẽ làm cho sự định tâm của hành giả sẽ rối loạn lên mất! Nếu trường hợp xét thấy cần thiết muốn niệm thì nên niệm “Thở vào-thở ra” một cách đơn thuần mà thôi.

- Vì vấn đề chính ở điểm nầy là sự cần thiết để “nhận biết” được rõ ràng: đầu-giữa-cuối (12) là 3 chặng của hơi thở vào ra, biết được như vậy là đã đủ rồi.

(I) Trong lúc tập trung duy trì sự chánh niệm trên đối tượng là hơi thở vào-hơi thở ra trong giai đoạn nầy cần biết rõ ràng trọn vẹn cả ba giai đoạn: đ-g-c, liên tục không gián đoạn trong suốt 1 giờ, 2 giờ... thiền tâm dần dần trở nên an tịnh tâm sẽ gắn chặt chẽ với đề mục hơi thở và lúc đó sẽ phát sinh trí tuệ:

+ Nhận biết rõ ràng ba chặng: đ-g-c của hơi thở ra, và ba chặng đ-g-c của hơi thở vào.

+ Nhận biết rõ ràng sự định tâm, yên lặng của hơi thở ra vào.

(II) Đến đây nhờ sự an tịnh của thiền tâm mà ngăn cản và chặn đứng được tất cả các trạng thái tâm phiền não, lo âu, bất an của quá khứ, cũng như những viễn tưởng trong tương lai v.v... Tâm của hành giả lúc nầy thanh tịnh an vui và sáng trong... sinh lực của nội tâm bắt đầu trên con đường sung mãn. Phát sinh trí tuệ nhận biết:

+ Sự hỷ (pīti) một trạng thái thỏa mãn, an vui, mát mẽ tràn ngập khắp châu thân, là một trạng thái của thiền tâm. (13)

+ Sự an lạc (sukha) vi tế, thanh tịnh, cũng như những trạng thái vô thường; khổ; vô ngã của thiền tâm.

* 5. Phát triển thiền tâm cho yên lặng:

“Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissā-mī'ti sikkhati; passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī'ti sikkhati”.

- Trong mọi thời hành thiền, đầu tiên hành giả cố gắng thành công cho được sự chánh niệm liên tục trên hơi thở ra-hơi thở vào, khi sự chánh niệm được liên tục thường xuyên rồi, Tiếp đến chuyển sang I (dài), sang II (ngắn) tức là chánh niệm trên sự dài, ngắn (chậm-nhanh (14)) trên hơi thở ra vào. Khi sự chánh niệm tập trung được chặt chẽ gắn bó thanh tịnh rồi chuyển qua giai đoạn đ-g-c (III).

+ Nếu hơi thở vào là dài thì chánh niệm nhận biết giai đoạn (đ-g-c) của hơi thở vào là dài… Thở ra cũng vậy.

+ Nếu hơi thở vào là ngắn thì chánh niệm nhận biết ba giai đoạn (đ-g-c) của hơi thở vào là ngắn... Thở ra cũng vậy

Hành giả cố gắng sao cho nhận biết toàn bộ cả ba chặng (đ-g-c) rõ ràng không gián đoạn.

Cần cố gắng đặt tâm “đợi” ngay “điểm tiếp xúc” nổi bậc nhất của sự xúc chạm giữa hơi thở (đ-g-c) vào, ra với điểm giữa râu hàm trên hoặc vùng quanh lỗ mũi (một trong hai lổ). Không nên theo dõi sự tiếp xúc của hơi thở đi vào trong thân hay hơi thở đi ra phía bên ngoài của lổ mũi.

Vào lúc cố gắng để biết rõ ràng trọn vẹn ba chặng (đ-g-c) của hơi thở vào, tương tự đối với hơi thở ra khoảng 1 giờ, 2 giờ v.v... với mọi lần hành thiền như vậy hơi thở dần dần trở nên an tịnh, tâm của hành giả sẽ bắt dính chặt vào hơi thở, và tiếp tục theo dõi hơi thở vào - hơi thở ra, cho đến khi hơi thở nhỏ dần, vi tế dần... Lúc nầy đồng thời hành giả cần có sự quyết tâm rằng: “Tâm ta nhất định sẽ an trú” “Tâm ta sẽ định”!

Và lúc nầy cố gắng quan sát để biết rõ ràng toàn bộ ba giai đoạn (đ-g-c), không nên niệm riêng biệt “hơi thở vào, hơi thở ra” hoặc cố gắng làm cho hơi thở mau chóng được vi tế theo ý mình, vì nếu làm như vậy hành giả sẽ mất sự định tâm.

- Pháp niệm hơi thở nầy nếu cố ý niệm “Theo ý mình” để cho hơi thở được dễ dàng an tịnh vi tế nhanh chóng thì không những sẽ làm cho hành giả mất sự định tâm mà còn mệt mỏi nữa!

- Do đó phép niệm hơi thở nầy, để đạt được định tâm, và cho hơi thở càng lúc càng nhỏ dần, vi tế dần, hành giả cần tuân theo nguyên tắc là:

Theo dõi hơi thở một cách liên tục và theo sự hoàn toàn tự nhiên của nó. (không cố ý điều khiển để cho hơi thở dài ra hoặc ngắn lại hay hơi thở phải như thế này như thế kia, như vậy gọi là điều khiển hơi thở. Không nên điều